Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

GẶP LẠI NHÀ THƠ HOÀNG CẦM



Trong những năm 1950 tôi làm trưởng ban Tuyên Huấn Liên khu Việt Bắc, sau đó chuyển công tác khác nên không có dịp gặp lại người đội trưởng đội Văn công hồi trước. Chỉ nghe loáng thoáng Hoàng Cầm phải đi cải tạo vì dính vào Nhân văn-Giai phẩm, năm 1982 lại phải ngồi tù 16 tháng vì tập thơ Về Kinh bắc. Tập thơ có ba bài -Đánh Tam cúc, Lá Diêu bông, Qua vườn ổi- bị coi là phản động, bóng gió đả kích Đảng. Ba bài ấy (thường gọi là bộ ba cây-lá-quả) được nhiều người ưa thíchđược diễn giải là lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Trần Thiếu Bảo giám đốc Nhà Xuất bản Minh Đức -đã bị tù trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm- mang tập thơ  đến nhờ Bùi Xuân Phái vẽ phụ bản. Đến hẹn, Thiếu Bảo đến lấy tranh và tập thơ. Ngày 17-8-1982 nhà thơ Hoàng Hưng đến nhà Thiếu Bảo lấy tập thơ để mang vào Sài Gòn thì bị bắt vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động“, phải đi cải tạo 39 tháng. Bản Về Kinh bắc và 6 bức tranh Bùi Xuân Phái bị tịch thu. Ba ngày sau -ngày 20-8-1982 đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Trong tù Hoàng Cầm nhận tội đã làm mấy bài thơ ấy để “chống Đảng, chống chế độ”.
 Hoàng Cầm kể lại (trích):
Tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat), tôi sống ở một phố nhỏ trên quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km, một con phố đìu hiu, lèo tèo vài hàng quán, ông thân sinh tôi mở hàng thuốc bắc, mẹ tôi có gánh hàng xén. Cái phố ấy có phong vị nông thôn với rặng tre, cây đa, con đường đất nhỏ, lại có tí văn minh với cảnh ô tô, tàu hoả.  Những đêm trăng cô hàng xóm tập họp bọn trẻ ra giữa đường hoặc cái bãi rộng sau ga hát trống quân, cò lả…
Có lẽ vì thế mà tập Về Kinh Bắc chìm trong buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò  viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải phấn khởi tươi vui. Ngoài ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng. Có điều tôi viết rất khéo sao cho nếu bản kiểm điểm sau này được công bố thì bạn bè và công chúng cũng thấy đó là sự nhận tội không tự nguyện, nhận mà không nhận. Thí dụ tôi dẫn chứng câu thơ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa” là rủa Đảng, bài thơ “Lá Diêu bông” và một số bài khác là mang tính chất tư sản, than thở số phận con người, qua đó thấy cuộc sống thất vọng quá, buồn quá, những ước nguyện đẹp nhất đều không thực hiện được.
Sau khi tôi ra tù, không ít bạn trách tôi vì sao lại nhận tội như thế? Có phải là hèn quá chăng? Nhưng thực tế hoàn cảnh tôi trong tù rất khốn đốn, sau ba tháng là sức khoẻ suy sụp, nếu kéo dài thêm hai tháng nữa thì có thể chết trong tù. Vì vậy, trước sức ép ngày đêm của những người công an thụ lý và những hứa hẹn của họ, tôi nghĩ: phải giữ cái mạng của mình đã, phải tồn tại, phải sống, tác phẩm của mình chẳng đi đâu mà mất, nó còn hay không là do nó, nó có giá trị thì nó sẽ tồn tại. Cho nên tôi quyết định nhận tội.
Hồi đầu1958, bên Trung Quốc đấu tranh rất gay gắt chống hữu phái trong văn nghệ, hình như có mấy nhà văn đòi tự do, đòi dân chủ gì đó. Ở bên ta, anh Huy Cận và một người nữa- tôi không nhớ rõ tên người thứ nhì, được cử sang tham quan để rút kinh nghiệm. Khi các anh ấy về thì lập tức mở ra một lớp gọi là lớp học chính trị, nhưng chính là để đấu tranh quyết liệt với tư tưởng NVGP bị cho là “tư tưởng phá hoại chống Ðảng”, “phản động”. Và sau một cuộc đấu tranh rất gay go, rất quyết liệt trong vòng gần hai tháng thì quyết định kỷ luật một số nhà văn, một số họa sĩ và nhạc sĩ đã tham gia  NVGP. Hội Nhà văn khai trừ ba năm anh Trần Dần, anh Lê Ðạt, Hội Âm Nhạc thì anh Ðặng Ðình Hưng, anh Tử Phác cùng chịu kỷ luật khai trừ ba năm. Suốt ba năm 58, 59 đến 60 hai anh  phải đi lao động cải tạo tư tưởng theo giai cấp vô sản, thấm nhuần tư tưởng nông công binh, để thực hiện trong sáng tác. Tôi và Phùng Quán nhẹ hơn, tức là khai trừ khỏi Hội Nhà văn một năm thôi. Riêng tôi, thì khai trừ khỏi Ban Chấp hành, thôi giữ chức Giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ và đi lao động như mọi người. Các anh Trần Dần, Lê Ðạt, Tử Phác, Ðặng Ðình Hưng trong 6 tháng đầu tiên phải lao động cả ngày, tức là 8 tiếng chăn bò, chăn trâu ở nông trường Chí Linh. Còn tôi, Phùng Quán, Trần Lê Văn và Quang Dũng thì lao động nửa ngày còn nửa ngày có thể đến các gia đình nông dân, đi tìm hiểu tình hình thực tế v.v…
          Kỷ luật lúc đầu chỉ như thế. Nhưng rồi kỷ luật kéo quá dài
, cho đến năm 88. Tức là kỷ luật từ năm 58, đến khi hết kỷ luật là năm 88. Ba mươi năm. Ðặng Ðình Hưng và những anh em trước kia bị cảnh cáo như Quang Dũng hay Trần Lê Văn không bị kỷ luật gì, vẫn có thể in sách, in báo được. 
Riêng bốn người Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm  không được in một cái gì cả, suốt từ năm 58 đến năm 88. Trong 30 năm ấy, tôi không thể đem ngòi bút của mình kiếm được một đồng xu nào hết, phải lao động chân tay. Tôi với anh Trần Dần đã từng kéo xe bò. Lúc thì anh này cầm càng, anh kia đẩy, cứ thay phiên nhau như thế. Mới được hai hôm, cả Trần Dần và tôi đều sốt, rồi đau hết mình mẩy, trận ốm kéo dài có khi hàng tuần lễ. Sau không chịu được lao động chân tay nữa, đành phải đi kiếm ăn bằng cách khác, anh Trần Dần được một người bạn giúp cho đi tô màu ảnh. Lúc bấy giờ chưa có máy ảnh màu. Ai thích ảnh màu thì cứ chụp đen trắng, xong Trần Dần bôi màu vào ảnh, bôi cái má hồng, bôi cái môi son, bôi cái áo hoa nọ kia. Mỗi cái ảnh như thế được một hào hay hào rưỡi. Tôi thì đi làm phim đèn chiếu. Viết lời thuyết minh kể chuyện chiến sĩ thi đua hoặc người tốt, việc tốt, hoặc an toàn lao động v.v… kiếm mỗi tối ba đồng. Từ năm 60 trở đi thì lại đi lao động. Anh Trần Dần và tôi vào nhà máy gỗ Hà Nội, anh Trần Dần làm thợ cưa, tôi đứng máy cưa.
        Năm 1982 tôi phải ngồi tù 16 tháng vì tập thơ Về Kinh Bắc, khi được về thì những bác sĩ quen đều thống nhất là tâm thần tôi bị hai dạng: trước tiên là hoảng loạn, thứ hai là trầm uất.  Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là frein ô-tô rít lên ở ngoài cửa –mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà– vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi, tìm chỗ trốn. Tôi đã nhiều lần chui xuống gầm giường vì những hoảng loạn như thế. Nghe tiếng giày cộp cộp và thoáng thấy một bóng áo, như áo Quân đội hay áo Cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một màu quần áo thôi, tôi cũng hoảng rồi. Chứ sự thực thì lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm gì mình cả.
         Thứ hai là trầm uất. Có khi cả ngày tôi không nói một lời. Bạn bè đến, tôi vẫn tỉnh táo pha trà mời mọi người có vẻ lịch sự lắm. Nhưng khi người ta hỏi tôi về bất cứ cái gì thì tôi không trả lời hoặc trả lời gióng một. Năm 87 có 7, 8 anh em nhà văn trẻ như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, v.v… ở Huế ra chơi.  Tôi vẫn giữ thái độ thân ái  nhưng khi Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi:“Anh có dự định sáng tác gì nữa không”, thì tôi lắc đầu không trả lời thành tiếng. Cứ lắc đầu hoài. Họ hỏi gì tôi cũng chỉ lắc đầu. Mãi về sau, sang năm 88, nhờ các bạn kéo tôi đi chơi những chỗ người ta yêu mến mình, dần dần nhờ sự săn sóc đó mà tôi lại viết được, cái mà tôi viết được ngay là bài “Mưa Thuận Thành”.
Năm 1988 báo “Văn Nghệ” dưới sự điều khiển của anh Nguyên Ngọc tổ chức kỉ niệm 40 năm thành lập báo. Tôi được mời, họ yêu cầu đọc một hay hai bài thơ, phần đông đều yêu cầu bài “Bên kia sông Ðuống”. Nhưng tôi, không đọc “Bên kia sông Ðuống” mà đọc hai bài thơ mới là “Mưa Thuận Thành”  “Lá diêu bông”. Tôi ngâm xong bài “Lá diêu bông” thì hội trường thành như một cuộc mít-tinh gì đó nhằm vào tôi. Hôm sau, ra hội trường Cung văn Hóa Hữu nghị Việt-Xô– khi nói đến tên tôi là lại nổi lên một trận vỗ tay đến nỗi tôi phải trốn. Không hiểu sao lúc bấy giờ tôi cứ ngường ngượng. Khi tôi lên sân khấu tiếng vỗ tay vẫn tiếp tục. Chợt có một lúc, tôi khóc lên, nước mắt ở đâu đó trào ra. Không phải là giọt nước mắt vui mừng vì vinh quang trở lại với mình. Không! Tuyệt nhiên không phải mà lúc bấy giờ tôi chợt nhớ đến bà vợ tôi là bà Lê Hoàng Yến. Nếu không có bà Lê Hoàng Yến thì không có tập “Về Kinh Bắc” viết cuối năm 59, tức là chỉ một năm sau khi bị kỷ luật. Tôi nhớ đến bà vợ đã qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn không có, bữa nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt, đáng lẽ ăn ba bát thì ăn có một bát, để nhường cho các con ăn. Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang ở dạng trầm uất và hoảng loạn. Bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đình. Gia đình thì đông. Mỗi một tháng phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải lên Sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi. Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ chập tối hơi sôn sốt, bà ấy đi nằm, giữa mùa nực mà bà ấy thấy ren rét, tôi phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Ðến 4 giờ sáng thì người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời. Thành ra đến lúc lên sân khấu, vinh quang trở lại với tôi một cách quá sức tưởng tượng, thì chợt xuất hiện hình ảnh vợ tôi đã chịu tất cả mọi khổ sở trong vòng 30 năm. Trong 30 năm ấy, tôi không thể dùng ngòi bút của mình kiếm được một đồng nào.
x  x  x
Phần vì không ở gần, nhất là vì sợ bị qui là “liên quan với tên đã nhận tội chống Đảng” nên tôi không thư từ thăm hỏi, càng không dám nghĩ đến chuyện về Bắc Ninh tìm gặp Hoàng Cầm. Đôi lúc tự trách mình hèn nhát nhưng lại tự an ủi “gặp thời thế thế thời phải thế”.
Đầu năm 1984 tôi tình cờ gặp lại nhà thơ. Lúc này tóc cả hai chúng tôi đã bạc người nhiều người ít sau bao nỗi trầm luân bao nỗi éo le trong số phận mỗi người. Ngồi tỉ tê tâm sự bên chén nước chè quán vỉa hè tôi xót xa cảnh ngộ Hoàng Cầm bèn kể lại vụ tôi không đôn phú nông lên địa chủ nên bị đuổi khỏi đội cải cách và bị coi là phần tử lập trường không vững, không đứng hẳn về phía nông dân. Kể lại chuyện đó với ý định an ủi Hoàng Cầm nhưng chính Hoàng Cầm lại an ủi tôi. Bằng cách…đọc một bài thơ. Bài “Em bé lên sáu” tả cảnh ngộ đứa bé có bố là địa chủ cường hào đã trả nợ máu, mẹ bỏ con lay lắt đi tuột vào trong Nam. Thằng bé bơ vơ đói rách hàng ngày kêu khóc xin ăn nơi đầu đường cuối chợ. Một chị trong đội cải cách thương tình bớt phần cơm của mình cứu nó khỏi chết đói. Vì chị nghĩ “Nó là con địa chủ Bé bỏng đã biết gì” và chị “Nhìn đứa bé mồ côi Cố tìm vết thù địch Chỉ thấy một con người”.
Nhưng vì thế mà
Chị phải đình công tác Vì câu chuyện trên kia
Buồng tối lạnh đêm khuya Thắp đèn lên kiểm thảo.
Do cái lưỡi không xương Nên nhiều đường lắt léo
Do con mắt bé tẻo Chẳng nhìn xa chân trời.
Do bộ óc chây lười Chỉ một màu sắt rỉ
Đã lâu nằm ngủ kỹ Trên trang sách im lìm.
Do mấy con-người-máy Đầy gân, thiếu trái tim
Nào "liên quan phản động" "Mất cảnh giác lập trường"
Trời nhập nhoạng tối sáng Chân lý mù như sương.
        Ngâm xong Hoàng Cầm nói:
-Những đứa bắt cô ấy kiểm thảo cũng cùng một duộc những thằng đuổi ông khỏi đội Cải cách...
Ngay sau đó anh sa sầm mặt:
-Có lẽ mình không làm thơ được nữa. Mình yếu lắm rồi, yếu toàn diện…Ông cũng đã ngồi tù phải không? Ngồi tù đế quốc thực dân tuy khổ về thể xác nhưng lại tự hào mình là người yêu nước là chiến sĩ cách mạng. Bị bỏ tù oan như tụi này thì vừa đau khổ thể xác vừa cay đắng tinh thần…
Tôi ái ngại, ướm hỏi :
-Nghĩ  lại chuyện cũ anh oán trách những ai?
Hoàng Cầm nhỏ nhẹ :
-Không, mình không thèm oán trách đứa nào. Con người phải biết yêu thương, phải khoan dung độ lượng, tránh xa thù hận. Người nghệ sĩ lại càng phải có lòng yêu thương, có lòng yêu thương thì sáng tác mới hay, mới đẹp. Trong lòng mang nặng hận thù thì không thể có tác phẩm tử tế được... Danh và lợi, sự bon chen, cầu cạnh, sự tâng bốc nịnh hót, dèm pha, thù hận là những cái rất xa lạ với mình, với Thơ chân chính, Thơ đích thực .
Tôi luôn cố gắng thực hiện bài học về lòng khoan dung Hoàng Cầm dạy tôi hôm ấy. Hôm ấy cũng là lần cuối cùng tôi trò chuyện với Hoàng Cầm. Ngày 6-5-2010 nhà thơ tôi quí mến đã sang thế giới bên kia… Tìm Lá Diêu bông.

SĐM

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

MẤY ĐỜI BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG…



          Tôi lên hai tuổi thì mẹ tôi qua đời sau khi sinh con bé em vì căn bệnh ngày xưa gọi chung chung là bệnh hậu sản. Khi tôi lên năm btôi lấy vợ lần thứ hai. Vài năm đầu bà ấy rất tử tế, một điều mợ hai điều mợ nghe ngọt như mía lùi. Vừa đẻ ra thằng con đầu là bà ấy trở mặt, bắt ne bắt nẹt tôi từng li từng tí, từ miếng ăn miếng uống đến lời thưa gửi vâng dạ. Đã thế lại thường hay đặt điều vu vạ, ton hót  làm tôi bị bố đánh đòn oan. Nhưng bà ta vẫn chưa hả dạ.
 Hồi tôi học lớp tư tiểu học (cour préparatoire), một buổi chiều hè oi bức vừa về đến nhà thì được bà dì ghẻ săn đón niềm nở khác hẳn mọi ngày.
- Mợ để phần con bát chè đỗ đen trong bếp. Mở lồng bàn lấy ra mà ăn cho mát ruột, đỡ đói, tối nay còn lâu mới có cơm.
Thằng bé háu ăn tức tốc chạy vào bếp, hất tung chiếc lồng bàn. Chẳng kịp lấy thìa, hai tay bưng bát chè nấu với bột sắn dây đặc quánh húp lấy húp để. Húp hết chè, ngửa cổ úp chiếc bát lên mặt định liếm đáy bát thì thấy rất nhiều sợi tóc li ti phủ một lớp đen kịt từ thành bát xuống đến đáy bát. Lúc ấy tôi nghĩ: chắc tóc vụn ở đâu đấy theo gió bay vào. Nuốt vào bụng, nó leo lên đầu thì thành tóc, trôi xuống chân thì thành lông, chẳng sao! Một tối khác, học bài xong tôi đứng dưới sân hóng mát. Cửa sổ tầng gác ngay trên đầu đóng kín, ánh đèn xuyên qua lá sách vạch những vệt sáng song song dưới sân. Bỗng thấy những vạch ấy biến thành khung sáng hình chữ nhật, tôi ngửng đầu nhìn lên vừa kịp nhẩy sang bên tránh chậu hoa từ trên ấy lao xuống cùng lúc với bóng một đầu người vừa thụt vào. Chậu hoa to một vòng tay ôm vỡ tan tành, văng một mảnh vào cẳng chân tôi tóe máu. Lần này cái đầu thơ dại của tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản “Hú vía! Suýt vỡ đầu vì cái chậu hoa rơi!”
Tết năm ấy, cô Tiến em bố tôi đến chúc Tết, lân la hỏi tôi chuyện sức khỏe, học hành, ăn uống v.v… Tôi nói với cô đủ thứ chuyện kể cả chuyện bát chè đỗ đen, chuyện chiếc chậu hoa. Nghe xong cô ôm chầm lấy tôi khóc sụt sùi một lúc lâu. Mãi sau cô mới thở dài “Tội nghiệp cháu tôi! Mấy đời bánh đúc có xương…” Lát sau cô lại nói “Sao mà người ta nhẫn tâm đối xử với con chồng tàn ác đến thế?...” Cô bàn với bố tôi cho tôi về ở với cô với lí do “gần trường học, hiệu sách của em có rất nhiều sách cho cháu tha hồ đọc”. Nhưng vì cô Tiến không dám nói rõ lí do tại sao cô đưa ra đề nghị này nên bố tôi không nghe. Bản thân tôi hồi ấy nghe cô than thở cũng không hiểu, nhiều năm sau tôi mới nhận ra ý cô nguyền rủa bà dì ghẻ độc ác và muốn đưa tôi thoát khỏi những mưu mô của bà ấy tiếp tục ám hại tôi...
Tuy chưa đủ khôn để nhận ra dã tâm bà dì ghẻ nhưng những đối xử bất công, những lời đơm đặt làm tôi bị bố đánh nhiều trận đòn oan cũng đủ làm tôi căm ghét, rắp tâm trả thù bà ta khi có dịp thuận tiện. Một hôm trong khi tôi đang ngồi học thì bà ấy đến đứng trước tủ gương chải đầu. Chiếc tủ gắn gương kín một bên cánh, kê ngay phía trước bàn học của tôi.  Nhìn vào gương thấy cái mặt quằm quặm rất đáng ghét của bà ta, tôi bĩu môi thật dài, giơ nắm đấm dứ dứ mấy cái. Bất chợt bà ấy quay phắt lại, chỉ tay vào mặt tôi quát: “Giỏi nhỉ! Mày không biết tao có con mắt sau gáy đây à? Gớm thật, dám dọa đánh tao cơ đấy. Để tao bảo bố cho mày một trận“. Thế là tôi lại bị bố đánh trận đòn thừa sống thiếu chết vì tội dọa đấm dì ghẻ. Từ sau bữa ấy tôi cạch không dám làm gì sau lưng bà ta nữa, đinh ninh bà ấy có con mắt mọc ở gáy có thể trông thấy mọi thứ sau lưng! Hồi ấy tôi mới lên bẩy lên tám tuổi ấy mà! Nhiều năm sau mới biết tại sao mình giơ quả đấm sau lưng mà bà ấy lại trông thấy!
x x x
Nửa thế kỉ đầy sóng gió trong vận mệnh dân tộc cũng như trong số phận mỗi con người trôi qua. Trong nửa đầu thập niên 80 người dân miền Bắc sống thiếu đói túng quẫn trăm bề trong cảnh “đêm tối trước Đổi Mới".
Ở Hà Nội liên tiếp xẩy ra nhiều vụ làm người dân khiếp hãi. “Vua Lốp” Nguyễn Văn Chẩn tuy làm ăn chính đáng, bỏ vốn bỏ công sức sản xuất được những chiếc lốp xe đạp rất tốt nhưng năm 1980 bị chính quyền vu cáo là  ' tư sản mới ', đầu cơ, làm ăn phi pháp, bị tịch thu tài sản và tống vào tù ba mươi tháng. Bà Oanh vợ Nguyễn Văn Chẩn nói:
"Một số cá nhân có chức quyền lúc bấy giờ ‘nổi máu tham’ muốn kết tội ông Chẩn để thừa cơ vơ vét tài sản của gia đình. Song, họ không ngờ rằng bao nhiêu tiền kiếm được từ việc sản xuất, kinh doanh lốp, ông Chẩn đều quy đổi ra vật liệu, tích trữ vật liệu để tiếp tục sản xuất chứ nào biết mua bán vàng bạc, tích trữ của nả gì. Họ sục sạo khắp mọi ngõ ngách trong nhà để tìm vàng bạc mà chẳng được gì. Vì trót nhúng tay vào chàm rồi nên họ vẫn phải tịch thu công cụ, nguyên vật liệu, niêm phong nhà xưởng sản xuất và phải... kết tội ông Chẩn".
 Năm 1983 xẩy ra vụ chỉ thị “Z30” tịch thu nhà và tài sản những người có nhà từ hai tầng trở lên. Khi Hà Nội bắt đầu thực hiện thì Nguyễn Văn An bí thư tỉnh ủy Hà Nam Ninh nhận được công văn của sở Công an thành phố xin duyệt danh sách 200 gia đình có nhà từ hai tầng trở lên để kiểm tra hành chính tịch thu tài sản. Bí thư Nguyễn Văn An chột dạ. Sao lại có chuyện vô lý thế? Để có tiền xây căn nhà tránh mưa, nắng, người dân phải bỏ ra biết bao mồ hôi, công sức trong khoảng thời gian nhiều khi đằng đẵng cả chục năm trời, thế mà giờ đây lại có lệnh tịch thu tài sản của họ là cớ gì? Nguyễn Văn An đi Hải Phòng gặp bí thư thành ủy Đoàn Duy Thành bàn tính xem nên xử trí  thế nào. Đoàn Duy Thành phân tích "làm thế là phi đạo lí, trái pháp luật. Cuộc sống của nhân dân còn khổ sở, tích cóp được ít tiền xây nhà cho cha mẹ con cái ở không dễ dàng gì. Nay ta tịch thu thì người dân ở vào đâu, ở bằng cái gì" v.v. Sau đó Đoàn Duy Thành được tin Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh, Bí thư Thành ủy TP.HCM) không cho thành phố làm, đợi đến hội nghị Trung ương để hỏi cho ra nhẽ. Hội nghị Trung ương tháng 6-1983 lên án Z30, chấm dứt một chủ trương kì quái mà Hà Nội phải giải quyết hậu quả đến 1992-1993 mới xong.
 Năm 1985 có vụ Tạ Đình Đề bị bắt lần thứ hai vì tội “thu thập ca dao hò vè nói xấu lãnh đạo, chống chế độ xã hội chủ nghĩa rồi truyền cho người khác nghe những câu như Đầu đường thiếu tá bơm xe, Giữa đường trung tá bán chè đỗ đen, Cuối đường đại tá bán kem, và Tôn Đản[1] là chợ vua quan, Nhà Thờ[2] là chợ trung gian nịnh thần, Bắc Qua là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng v.v.” Tạ Đình Đề hay ngâm nga những câu ấy vì sau khi được tòa tuyên bố vô tội và trả tự do năm 1976  nhưng không được chính quyền trả lại sổ gạo, tem phiếu khiến đời sống vợ chồng con cái khốn quẫn…Đến tháng 12-1987 viện Kiểm sát Tối cao ra quyết định đình chỉ điều tra, trả tự do cho Tạ Đình Đề…
         Đã thế hội nghị Trung ương 8 khóa V (10-6-1985) lại quyết định một cuộc cải cách lớn nhằm tăng sức mua của đồng tiền lên gấp 10 lần. 12 tỉ tiền mới in ở Cộng hòa dân chủ Đông Đức mang về đưa ra thị trường. Dân phải đổi tiền cũ lấy tiền mới theo tỉ giá 10 cũ ăn 1 mới. Mỗi người chỉ được đổi lấy 2 000 đồng mới, số tiền cũ còn thừa phải gửi ngân hàng, nhà nước sẽ xét sau. Nhiều người vì thế mất sạch số tiền dôi dư và tiền gửi tiết kiệm. Vì chỉ in 12 tỉ đồng nên trên thị trường khan hiếm tiền. Không có tiền trả lương công nhân, nhiều nhà máy trả lương bằng sản phẩm, có công nhân lĩnh lương bằng…một chồng mũ, có giáo viên nhận lương bằng phân bón! Để có đủ lương thực, nhà nước thu mua 40 % nông sản với giá cực rẻ “mua như cướp”. Các địa phương lo giữ hàng cho địa phương mình, chống nạn đầu cơ buôn bán chợ đen nên đua nhau lập hàng loạt trạm kiểm soát tạo thành tình trạng “ngăn sông cấm chợ”. Để giải quyết khó khăn, chính phủ phải in thêm tiền, dẫn đến vật giá tăng: cuối năm 1986 giá bán lẻ hàng hóa tăng 845,3 %, lạm phát lên đến 774,4 %.
Cuộc sống vừa khốn đốn về vật chất vừa bức bách về tinh thần. Không ai dám sản xuất, kinh doanh, mọi người đều lo ngay ngáy không biết ngày mai sẽ còn xẩy ra chuyện gì nữa. Đào Xuân Sâm, thành viên nhóm cố vấn cho tổng bí thư Trường Chinh nhớ lại: “Giữa năm 1986, cả nước thiếu đói trầm trọng. Các dự án kinh tế đầu tư khổng lồ đều không phát huy tác dụng. Nguyên vật liệu khan hiếm khiến các nhà máy sống thoi thóp. Lạm phát lên 300, 400, 500 và 700%... Lòng người từ trong đến ngoài Đảng, từ cơ sở đến trung ương hoang mang và loay hoay không biết lối ra".
Trong hoàn cảnh xã hội như thế tất nhiên cuộc sống của dì ghẻ tôi càng khốn khổ hơn nhiều người khác vì tuổi đã cao lại lắm bệnh, không vốn liếng, không nghề nghiệp, không tháo vát, không chỗ dựa, đã thế từ khi chuyển từ Hưng Yên về sống với con trai vẫn chưa đăng kí được hộ khẩu nên không được cấp tem phiếu lương thực…Bà sống lay lắt trong đói khát ốm đau ở phố Nguyễn Siêu với vợ chồng chú em cùng bố khác mẹ với tôi. Chú em này đau dạ dày rất nặng, là giáo viên tiểu học thất nghiệp, hai vợ chồng phải nuôi một thằng con bẩy tuổi…mấy mẹ con bà cháu chỉ rau cháo qua ngày, dở sống dở chết trong tình thế bị dồn vào chân tường không có lối thoát. Nhưng bà ta không tìm đến tôi, chắc do mặc cảm về những chuyện cũ. Vì thế tôi không biết rõ hoàn cảnh sống của mấy bà cháu, cho đến hôm chú em tìm đến nhà tôi xin “vay” vài cân gạo. Tôi hỏi tại sao phải vay gạo và được nghe kể về tình cảnh khốn đốn của mấy mẹ con, bà cháu.
Tôi đến thăm người ngày xưa đã hai lần ám hại tôi khi tôi còn non dại, lần thứ nhất trộn tóc vụn vào bát chè đỗ đen, lần thứ hai ném chậu hoa từ trên gác xuống đầu tôi nhưng không trúng. Sau một hồi hỏi chuyện tôi thấy tình cảnh bà ta thật đáng thương. Tôi giúi cho bà ta ba mươi đồng, vừa đủ chi dùng tằn tiện trong một tháng. Từ đó về sau, tháng nào tôi cũng trích đồng lương còm chu cấp cho bà ta số tiền ấy. Ngoài ra gần như mỗi tháng một lần chú em xách chiếc bị cói đến nhà, tôi lại trích từ tiêu chuẩn lương thực của gia đình dăm ba bơ gạo kèm với ít ngô hoặc khoai trút vào bị cho chú mang về cứu đói.
Sáu tháng sau, một buổi xế chiều chú em đi tàu điện đến báo:
 - Mẹ em sắp chết, đang muốn gặp anh lắm.
Tôi đạp xe đến nơi, vén màn nhìn bộ xương bọc da xám xịt đang thở hắt trên giường. Thương tình, tôi nắm lấy bàn tay khô đét. Chưa kịp nói lời an ủi thì bà dì ghẻ rụt tay về, lẩy bẩy đặt lên ngực chắp  hai tay run run vái tôi ba vái. Rồi tắt thở.
 Tôi cúi đầu trong một phút, cầu mong linh hồn bà chóng siêu thoát. Xét cho cùng, dì ghẻ tôi chỉ là nạn nhân vô thức của cái xã hội coi trọng đồng tiền hơn tình nghĩa con người.

                                                                                                                                       SĐM


[1] Cửa hàng ở phố Tôn Đản bán nhiều mặt hàng cao cấp theo giá rẻ cho cán bộ cấp cao.
[2] Cửa hàng ở phố Nhà Thờ bán nhu yếu phẩm theo giá cung cấp cho cán bộ trung cấp.