Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

NẮM CƠM KHẤT THỰC

  Đến hẹn gặp tổ trưởng Đỗ Đức Kiên, tôi nói rõ lí do không ở với anh Tám nữa. Kiên lắng nghe, khen tôi cư xử thế là rất có tình có nghĩa. Nhưng khi tôi hỏi nơi sẽ đến ở, Kiên ngớ người chưa nghĩ ra chỗ nào. Phần lớn các cơ sở của anh đều là sinh viên, công chức có vợ có con, nhà cửa chật chội, tuy thể nào cũng có người sẵn sàng nhận lời nhưng những chỗ ở như thế không tiện cho sinh hoạt và công việc của người thoát li gia đình hoạt động bí mật. Sau một hồi bàn tính, hai anh em quyết định: tạm thời tôi lại đến trú chân trong nhà Đu. Chỗ ở thế là tạm ổn. Về cái ăn thì mỗi sáng đến bờ hồ Hoàn Kiếm lĩnh một suất cơm của đoàn Khất thực do Hoàng Phương[1] cung cấp (trong tổ Đỗ Đức Kiên ngoài tôi còn có Hoàng Phương và Sáu). Sống cầm hơi như thế dăm ba ngày, đợi Kiên bàn thêm với Sáu tìm chỗ thích hợp.
Bố mẹ Đu đã quá quen cậu bạn học hiền lành của con trai nên sốt sắng thu xếp chỗ ở cho tôi. Phố Bắc Ninh[2] không quá tấp nập cũng không quá vắng vẻ, thợ thuyền tới làm cho chủ các cửa hàng đồ gỗ hết giờ ai về nhà nấy nên chẳng ai chú ý sự có mặt của cậu học trò mới đến ở trong nhà gia đình nghèo túng vào loại nhất phố.
x x x
        Ngày 6-5-1941 Nhật buộc Pháp ký một hiệp ước qui định Pháp phải hằng năm cung cấp lương thực cho chúng. Từ 1941 đến 1944 mỗi năm Pháp nộp cho Nhật từ 700.000 đến1,3 triệu tấn lúa, ngô, tương đương 50-80% tổng sản lượng lương thực nước ta thời đó. Ngoài ra phát xít Nhật còn cần rất nhiều loại nguyên vật liệu nên chúng bắt nông dân ta phải nhổ lúa trồng những cây có sợi, có dầu như đay, gai, bông, thầu dầu...
        Vụ mùa năm 1944 nạn đói tàn khốc nhất lịch sử nước ta ập đến. Năm ấy đâu đâu lúa cũng chết vàng, mọi giống lúa đều bị đạo ôn (bọ rầy) phá hỏng. Đã thế  bè lũ phát xít Nhật thực dân Pháp còn bắt dân ta đóng vô vàn thứ thuế …
       Toàn dân vô cùng lo lắng trước nạn đói chưa từng trong lịch sử có thể giết chết hàng triệu người. Một số thanh niên lập Đoàn Khất thực hàng ngày đi quyên góp cơm gạo cứu đói. Các nhà hảo tâm nấu cơm, nắm sẵn thành từng nắm, đoàn Khất thực tới nhận mang đi phân phát cho những người sắp chết đói nằm la liệt khắp thành phố. Công cuộc cứu đói được đông đảo dân thành phố nhiệt liệt hưởng ứng, người có nhiều góp nhiều, có ít góp ít theo tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Người  không có cơm gạo thì góp công góp sức. Người không có thì giờ, nhân lực để nấu cơm nắm thành từng suất thì góp gạo giao cho các đoàn viên Khất thực nấu.
        Không chỉ từng lớp trung lưu mà nhiều nhà tư sản yêu nước thương dân cũng sốt sắng góp công của vào việc nghĩa theo truyền thống của dân tộc “lá lành đùm lá rách, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tiêu biểu là nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà (1894 - 1980) chủ hãng sơn Gecko. Lúc trẻ làm phụ thư kí cho một hãng buôn Pháp sau đó sang làm cho hãng sơn Sauvage Cottu ở Hải Phòng. Với ý định tự lập, làm giàu, sau một thời gian làm cho hãng, ông tự tìm cách sản xuất sơn bằng phương pháp thủ công, rồi tiếp cận dần với kỹ thuật hiện đại. Hãng sơn của ông lấy tên Gecko với logo là con tắc kè xanh.
        Năm 1939, Nguyễn Sơn Hà cùng vợ đến thăm Phan Bội Châu đang bị Pháp quản thúc tại Huế. Cuộc gặp gỡ này đã tác động sâu sắc đến Nguyễn Sơn Hà: ra tranh cử Hội đồng thành phố, tham gia tích cực các hoạt động của Hội Trí tri, Hội Ánh sáng, Hội Truyền Bá quốc ngữ, thành lập các cơ sở từ thiện, mở trường Dục Anh nuôi dạy trẻ lang thang, cơ nhỡ ngay bên biệt thự của gia đình trên đường Lạch Tray, Hải Phòng.  Biết tin quê nhà (huyện Quốc Oai) bị mất mùa nhân dân đói kém, ông về quê  giúp đỡ bà con, chuyển hàng trăm cây dừa về trồng ở bên đường và đình làng để tạo bóng mát và thu hoạch quả, cử người đi học nghề dệt vải rồi mua tặng dân làng 4 máy dệt mở cơ sở sản xuất tạo việc làm và thu nhập cho dân. Trong nạn đói Ất Dậu (1945),Nguyễn Sơn Hà thuyết phục những người giàu có cùng với mình lập Hội Cứu tế để giúp đỡ dân nghèo. Ông tặng toàn bộ số thóc thu được từ 200 mẫu ruộng của ông ở Kinh Môn (Hải Dương) vào công cuộc cứu đói. Lúc đầu số thóc đó đem nấu cháo, sau đó nấu cháo cũng không đủ cung cấp, phải chuyển sang làm bánh tấm, bánh cám phát cho dân.

Vỉa hè các phố phường Hà Nội, các vườn hoa, gầm đường dẫn cầu sông Cái chỗ nào cũng chất đống xác người chết đói. Sáng sáng có những chiếc xe bò do người kéo chở xác đi chôn. Một hôm thấy trên xe có người còn động đậy hai cẳng chân tôi gọi người kéo xe “ Bác ơi, có người còn sống đấy!” Người kéo xe thản nhiên: “Biết rồi. Đến chỗ chôn nó chết là vừa!”
Mỗi sáng theo đúng hẹn vào khoảng chín giờ tôi tới cổng đền Ngọc Sơn. Hoàng Phương trưởng đoàn Khất thực khu phố chọn trong bị cói lấy nắm cơm to nhất giúi cho tôi. Bữa nào được nắm cơm phủ mảng cháy vàng rộm to bằng nửa bàn tay tỏa mùi thơm điếc mũi thì sướng không sao tả xiết!
Giấu kín nắm cơm trong cặp da tôi lững thững cuốc bộ tới đường Cổ Ngư mới dám lấy ra ăn. Mặt mũi lúc này tuy hốc hác xanh xao nhưng vẫn còn dấu vết thư sinh, so với những người nông dân và dân nghèo đói rách sắp chết đói kia thì tôi vẫn còn khoẻ còn đẹp chán. Mẽ người thế này mà ăn cơm Khất thực thì đáng nghi lắm. Chó săn tay sai của Nhật, các loại Việt gian, hiến binh mặc thường phục lúc nhúc soi mói khắp nơi, đánh hơi mọi xó xỉnh, không thể vì háu đói mà sơ xuất.
  Đường Cổ Ngư vẫn khá đông người. Nhưng không phải là những đôi trai thanh gái lịch Hà Nội ngồi tự tình mà toàn là những người tứ xứ thất thểu dìu nhau lên Hà Nội kiếm miếng ăn họ thấy trong tưởng tượng khi còn ở quê nhà.
Tôi tới dưới gốc phượng vĩ, cách mấy toán hành khất chừng mươi bước chân, ngồi bẻ nắm cơm ra ăn. Cơm nấu bằng gạo hẩm, nắm vội nên không dền, mỗi khi bẻ một miếng lại bở ra một mảng, cơm rơi lả tả. Tôi khép chặt đùi hứng không để rơi mất hạt nào, một hạt cơm bây giờ rất quí.
Ngày thứ nhất tôi yên ổn ngồi ăn hết nắm cơm. Những hột cơm nhạt thếch, mấy miếng đầu làm tôi ngán tưởng chừng không nuốt nổi nhưng rồi cũng thấy ngon khi nhớ lại nắm cơm nấu nước vôi trong nhà tù Thanh Hóa.
Ngày thứ hai tôi vẫn ngồi chỗ ấy ăn hết nắm cơm không gặp rắc rối gì. Hôm nay ăn đã thấy ngon miệng hơn, khả năng thích nghi với hoàn cảnh giúp tôi luôn chiến thắng mọi tình huống ngặt nghèo để sống và chiến đấu.
Ngày thứ ba, tôi vừa nhai kĩ miếng cơm chờ đến lúc nó ngọt lịm mới nuốt vừa móc túi lấy tờ truyền đơn Chuẩn bị Tổng khởi nghĩa ra đọc. Nhìn bốn xung quanh thấy toàn những bộ xương đầy ghét quấn không kín trong mảnh khố tải rách bươm, không thấy có bộ mặt nào đáng ngờ, tôi co chân trái, tì khuỷu tay cầm nắm cơm lên đầu gối, tay kia lấy tờ truyền đơn trong túi đặt lên đùi bên phải. Che chắn như thế là cẩn thận lắm rồi, không sợ lộ bem.
Mới đọc được vài câu thì bất chợt nắm cơm bật khỏi tay. Tôi giật mình, ngửng đầu lên vừa kịp trông thấy người đang bỏ chạy. Gọi là chạy nhưng thực ra tấm thân liêu xiêu đó chỉ loạng choạng được mươi bước là phải tì vội vào thân cây bên hồ cho khỏi ngã. Đó là một cô gái còn trẻ, mái tóc khô vàng như túm rơm buông xõa, hai má lõm sâu, hai cẳng chân khẳng khiu như hai ống nứa lộ ra dưới mảnh bao tải lờm xờm. Cô dựa vào gốc cây, giơ nắm cơm vừa cướp được lên nhìn như lạ lẫm, như nghi hoặc rồi ngoạm một miếng. Hình như bị nghẹn, vươn dài cổ,  mấy đường gân mấy mạch máu tím sẫm hằn lên.
Bất chợt cô gái quay nhìn tôi. Đôi mắt tròn to, đen lạ lùng dưới cặp lông mày đầy đặn. Nhìn tôi chừng mươi giây rồi cô bẻ chỗ cơm còn lại làm đôi, chìa về phía tôi và nhoẻn miệng cười để lộ hai hàm răng trắng hởn. Thấy tôi vẫn ngồi im, cô khẽ nhấc nhấc bàn tay cầm cơm, như ra hiệu cho tôi đến nhận. Cũng có lẽ cô ra hiệu sắp tung cục cơm tới chỗ tôi.
Tôi giấu vội tờ truyền đơn vào túi, xua cả hai tay, lắc đầu.
Cô gái nguýt dài. Rồi ngồi thụp xuống, ăn tiếp chỗ cơm đang nắm trong hai bàn tay lem luốc, vàng vọt, trơ xương, run lẩy bẩy…
 Tôi quay mặt nhìn xuống đám cỏ khô xơ xác ven hồ, nước mắt ứa ra…Nắm cơm của tôi chắc chắn không thể cứu người con gái nhân hậu ấy thoát chết đói. Tội nghiệp quá!                     
SĐM


[1] Trung tướng,Viện trưởng viện Lịch sử Quân sự bộ Quốc phòng.
[2] Phố Nguyễn Hữu Huân.

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

ANH CÔNG NHÂN BẾN PHÀ ĐEN

Tôi rời nhà Minh, về nhà anh chị Kim. Chiều hôm sau đi gặp Nguyễn Anh Bảo kể lại chuyện xẩy ra ở nhà cô me tây làng Hoa và quyết định của tôi. Lúc này Bảo sắp chuyển sang đường dây khác nên sau một hồi suy tính, anh nói:
-Phan sang sinh hoạt với tổ Đỗ Đức Kiên[1]. Anh ấy sẽ lo giải quyết việc này. Ngày mai ta gặp nhau bàn thêm.
Hôm sau ba anh em gặp nhau bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Bảo bàn giao tôi cho tổ trưởng Đỗ Đức Kiên, dặn dò việc thu xếp nơi ăn ở cho tôi rồi đạp xe đi.
Sau vài câu chuyện Kiên nói:
 - Phan đến ở với một công nhân trên bến Phà Đen, một quần chúng rất tốt.   với anh ấy cậu sẽ học được nhiều điều. Cậu đã thoát li gia đình, có điều kiện thuận lợi hơn mình để vô sản hóa, cắt đứt cái đuôi tiểu tư sản vẫn đang lẵng nhẵng sau lưng cánh ta. Mình sẽ báo cho anh ấy biết. Ám hiệu thế này…

Anh công nhân ở trong túp lều chênh vênh trên mặt đê sông Hồng, chiều ngang chừng hơn hai thước tây, chiều dọc vừa bằng mặt đê khoảng gần hai thước, ba mặt quây liếp đan gióng một chi chít lỗ mắt cáo, cửa nhìn ra sông che manh khố tải rách bươm vì gió bấc quật phần phật.
Sau khi nhận ra ám hiệu anh tươi cười đón tôi, nụ cười rộng làm hai má hốc hác càng nhăn sâu thêm. Mái tóc chải lật đã có những sợi bạc. Giọng Nghệ An pha giọng Bắc nghe không nặng lắm.
Anh chỉ tay xuống phía xa dưới chân đê:
- Mình là Tám, thợ tiện trong công binh xưởng Nhật dưới kia.
Trong lều có một ổ rơm, trên đặt tấm chăn sợi Nam Định –loại chăn các chủ đồn điền phát cho phu đi Tân Thế Giới. Cạnh ổ rơm có hai viên gạch một cục đá kê làm đầu rau. Góc lều chất mấy thanh củi bên trên chông chênh vài ống bơ ám khói đen nhẻm.
Anh Tám ngồi xuống sát bên, nắn nắn cánh tay tôi:
- Gầy quá. Cậu bao nhiêu tuổi?
- Mười chín. Anh bao nhiêu? Đã năm mươi chưa ạ?
- Băm tám.
Tôi nghĩ thầm: trông anh già trước tuổi nhiều.
Anh Tám kể chuyện những năm học nghề tiện trên phố. May gặp được người tốt bụng, trong ba năm phụ việc kiêm người ở không công anh được chủ bày vẽ tận tình nên có tay nghề kha khá, kiếm được chỗ làm ở sở Đạn bờ sông của Pháp bây giờ thuộc nhà binh Nhật, chuyên đúc đạn moóc-chi-ê, lựu đạn.
 Trưa hôm đó khi tôi đi công tác về, anh Tám đã đi làm. Nhìn bát cơm đặt cạnh ống bơ nước muối, tôi ngơ ngác nhìn quanh xem có còn món gì nữa không. Rồi cười thầm “Mình thật ngớ ngẩn!” Tuy bụng đói meo nhưng nuốt mãi mới hết bát cơm rưới nước muối. Từ khi không phải ăn cơm tù, lại có một thời được vỗ béo ở nhà anh chị Kim, thần khẩu của tôi đã nhiễm thói kén cá chọn canh. Bây giờ cá chẳng có canh cũng không nên ông ngúng nguẩy!
Tối tôi về, anh Tám vẫn ngồi chờ, cơm chưa dọn ra. Trong một ống bơ nhỏ có chất nước màu nâu bốc mùi thơm chua chua.
Tám xới cơm, nói:
- Nào, chén đi. Đây là tương Nhật, chúng nó vét không hết còn sót trong hũ sành quẳng hố rác. Gạn hết đất cát, nấu chín còn ăn được.
Hai anh em đùn đẩy nhường nhau chỗ cơm còn lại trong cái nồi hộp sắt tây, cuối cùng chia đôi mỗi người một nửa.
Ăn xong, Tám chất mấy gộc củi to vào bếp. Hai anh em ngồi chuyện vãn. Tám hỏi đủ chuyện về tình hình thế giới, về Liên xô, về đường lối cách mạng của Việt Minh. Anh chăm chú lắng nghe, đầu luôn gật gù, mồm lẩm bẩm nhắc lại những từ khó, chắc anh muốn nhập tâm các lời giải thích của tôi.
Lúc đã khá khuya thấy tôi tỏ vẻ mệt, mắt díp lại, anh giục:
- Thôi, đi ngủ. Cậu còn ở đây mình còn có nhiều dịp hỏi thêm. Chẳng mấy khi có một ông thầy ở ngay trong nhà chỉ bảo cặn kẽ như thế này. Lúc bé mình có được học hành gì đâu, bây giờ đọc còn phải đánh vần từng chữ ấy mà.
Hai anh em nằm lên ổ rơm, đắp chung chiếc chăn mỏng vừa hẹp ngang vừa ngắn dọc, Tám ôm ghì tôi, kéo chăn đắp kín người tôi, bỏ mặc lưng anh hở hết ra ngoài…
Nửa đêm tôi sực tỉnh, thấy mình cuộn tròn trong chăn, gió bấc thổi tung manh khố tải che cửa thốc khói bếp bay mù mịt, rất ấm nhưng hơi khó thở. Tám ngồi cạnh bếp củi bập bùng, nghiêng người vào gần ngọn lửa lẩm nhẩm đọc tờ Độc Lập, báo của đảng Dân Chủ.
- Anh không ngủ nữa à? Tôi hỏi.
- Ngủ thế được rồi. Dậy chụm thêm củi cho ấm, nhân thể đọc báo. Chịu khó đọc mỗi ngày một ít, lâu lâu sẽ rành. Ngu dốt cực lắm.

Tôi ngầm hiểu anh đã nhường chăn, thức canh lửa cho tôi ngủ. Tôi tung chăn đến ngồi bên anh.
Tám chỉ vào bản nhạc trên tờ Độc Lập, số ra cuối năm 1944 in bài Tiến Quân ca của Văn Cao:
- Cái này là chữ nước nào?  Cậu đọc được không?
- Không phải chữ đâu ạ. Đây là những ký hiệu âm nhạc, đọc lên thành bài hát.
Tám không hiểu, lắc đầu chán ngán. Tôi giải thích tiếp:
- Đây là bài Tiến Quân ca, bài ca chính thức của Việt Minh. Có những nốt nhạc thế này, mình tập hát dễ hơn. Em hát anh nghe thử nhé.

Đoàn [2]…quân Việt Minh đi,
Chung lòng cứu quốc,
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao đoàn Việt lập chiến khu.
Thề phanh thây uống máu quân thù,
Tiến mau ra sa  trường
Tiến lên, cùng thét lên,
Chí trai là đây nơi ước nguyền..

Tôi say sưa hát hết bài rồi hát lại từ đầu. Tám nghiêng đầu ngồi nghe, tay vỗ đùi đánh nhịp, cuối cùng anh giơ cao hai tay hô to:
Tiến lên! Cùng thét lên!…
Chí trai là đây nơi ước nguyền!
         Hai anh em vui vẻ nắm tay nhau thật chặt.

Một hôm ăn tối xong Tám lấy trong túi dết ra một quả đạn moóc-chi-ê sáng loáng:
- Mình tiện những quả moóc-chi-ê 60 li này cho bọn Nhật.
Anh chỉ vào đuôi quả đạn:
- Ống thuốc phóng gắn vào đây.
Rồi chỉ vào cái hốc sâu miệng tròn xoe trên đầu đạn:
- Thuốc nổ nhồi trong này. Nhồi đầy thuốc rồi vặn chặt kíp nổ vào đây. Mình tiện xong, chúng nó dùng thước kĩ thuật đo từng đoạn từ trên xuống dưới, nếu sai dù chỉ một dem là ốm đòn. Quả này được chúng nó coi là đúng chuẩn.
Anh cười thích thú:
- Nhưng nó vẫn cứ thua mình. Khi tiện sâu vào bên trong khoang thuốc nổ, mình tiện lệch về một phía. Ít thôi, chỉ ba bốn dem. Thế là khi bắn, đạn đi chệch mục tiêu. Sai một li đi một dm mà. Ấy là mình nghĩ thế, cậu thấy có đúng không?
Tôi không biết đích xác nhưng cũng hình dung quả đạn chỗ dầy chỗ mỏng nên đường bay chắc chắn không ổn định. Tôi thành thật khen:
-Hoan hô anh Tám có sáng kiến rất hay!
Tám khoái ra mặt, cười tít mắt làm những vết nhăn nhài quạt hằn sâu thêm. Anh mơ màng:
- Bao giờ nhà máy là của ta, đúc đạn cho ta, tụi này sẽ đúc những quả đạn không sai lệch nửa dem bắn đâu trúng đó…

Mấy ngày nay bữa cơm đã có rau muống luộc chấm nước tương loãng của Nhật, muối vừng được đựng trong đĩa sành, ống bơ nước rau có vắt nước quất, lâu lâu có món ăn tươi bằng…khúc cá khô nướng. Đũa bát đã có đôi, nồi nấu cơm bằng hộp sắt đã thay bằng chiếc cà-mèn “tây quăng” lính Pháp không kịp mang theo khi tháo chạy…Tất cả những tiến bộ vượt bực ấy bào mòn gần hết tờ năm hào còn lại trong túi tôi khi rời khỏi nhà Minh. Vài tuần sau trong túi chỉ còn mấy xu. Tài sản gần cạn mà chỉ cải thiện đôi chút bữa ăn bằng mấy món rẻ tiền. Riêng cơm thì không tăng thêm hột nào. Suất gạo anh Tám lĩnh trong xưởng mỗi tháng vẫn chỉ 12 cân cho hai miệng ăn. Đong thêm gạo chợ đen là chuyện không tưởng…
Tôi thấy không nên ở đây lâu hơn nữa, dù đã quyến luyến Tám, coi như một người anh, một người thầy đã dạy tôi nhiều bài học quí. Anh không một lần nói đến những từ “hữu ái giai cấp” thậm chí có lẽ còn không hiểu mấy từ bác học đó là nghĩa là gì nhưng anh luôn thực hiện trong hành động hằng ngày theo bản chất tự nhiên của anh. Anh không nói đến vai trò, sức mạnh của giai cấp công nhân nhưng đã nghĩ ra cách phá hoại vũ khí của quân thù ngay trong sào huyệt của chúng. Mặc dầu đã lớn tuổi, chữ nghĩa chẳng có bao nhiêu, việc học đối với anh rất vất vả nhưng anh vẫn tranh thủ mọi lúc để học qua những buổi trò chuyện, qua báo chí.
Tôi chưa đọc cuốn sách nào viết về bản chất giai cấp công nhân nhưng qua những ngày sống với anh Tám, tôi đã cảm nhận từ anh truyền sang cho tôi ít nhiều phẩm chất cao quí của giai cấp công nhân: thương yêu đồng chí đồng đội, nhận khó về mình nhường thuận lợi cho bạn; căm thù địch sâu sắc, tìm mọi cách tiêu diệt chúng; không ngừng học hỏi nâng cao trình độ của mình… Những bài học tôi ghi nhớ suốt đời và luôn cố gắng làm theo.
Việc đầu tiên làm theo tấm gương của anh là tôi đi phải khỏi đây để anh khỏi đói rét khỏi khổ thêm vì tôi.
Thế là một lần nữa tôi lại đứng trước câu hỏi:  Đi đâu bây giờ? Sống bằng gì để tiếp tục cuộc chiến giành độc lập tự do cho dân tộc?
                                                                                                                          
SĐM

[1] Tên thật là Phạm Khương (1924-2003) nguyên quán Thái Bình. Năm 1944,  tham gia Việt Minh. Sau 8-1945 giữ chức: Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Trường Sĩ quan Lục quân; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng. Sau khi tốt nghiệp “bằng đỏ” trường Voroshilov ở Liên xô, về làm Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân. Bị bắt trong vụ án "Xét lại".

[2] Trong bản viết đầu tiên nốt  Rê của Đoàn kéo dài, về sau Văn Cao theo gợi ý của Đinh Ngọc Liên chỉ huy đoàn Nhạc binh, sửa cho nốt này bắt liền vào nốt sau. Lời Tiến quân ca cũng được sửa nhiều chỗ trước và sau khi được quốc hội phê duyệt chính thức là quốc ca.