(nhạc sĩ Dzoãn Mẫn)
Cuối năm 1986 tôi đưa vợ con vào thành phố Hồ Chí Minh. Ban
ngày làm việc ở đơn vị, buổi tối, ngày nghỉ tranh thủ dịch sách, viết báo, vợ tôi
bán cà phê thuốc lá…cuộc sống dần dần tạm ổn, sau hơn hai năm gia đình tôi vượt
qua phần lớn những bế tắc hồi ở Hà Nội. Lãnh đạo thành phố có nhiều chủ trương chính
sách sáng tạo, mạnh dạn xé rào, cởi trói cho sản xuất kinh doanh nên không khí ở
đây thông thoáng, dễ làm ăn, dễ sống. Trong thành phố lại có nhiều người bạn vừa
tốt bụng vừa có điều kiện san sẻ cho tôi nhiều thứ, giúp tôi vượt qua khó khăn.
Ở Hà Nội tuy cũng có những bạn sẵn sàng giúp đỡ tôi nhưng họ không có khả năng
sắm xe Dream như Thiết Vũ, không có con là ca sĩ đêm đêm nhận cát sê trị giá mấy cây vàng như Thái Thị Chi Lan... Các bạn ngoài ấy dù không ai lâm vào cảnh
cùng quẫn được mô tả bằng câu vè có phần phóng đại Đầu đường đại tá bơm xe, Giữa đường trung tá bán chè đỗ đen, Cuối đường
thiếu tá bán kem nhưng đều đang rất khó khăn, dù muốn giúp tôi nhưng lực bất tòng tâm.
Vào sống trong thành phố Hồ Chí Minh tôi không còn phải dậy
từ 2, 3 giờ sáng đi xếp hàng đong gạo rồi phải về không vì kho hết gạo. Ở đây,
mỗi ngày đầu tháng cứ mang bao tải đến ban Hậu cần của đơn vị là có gạo không kèm
độn mang về. Ngày nào có thịt tiêu chuẩn, anh bạn Minh Đức đi nhận cho cả khoa
giáo viên, mượn cân và dao thớt ngồi pha, chặt chia phần cho từng người đúng
cân đúng lạng. Các tiêu chuẩn đường, nước mắm, đậu phụ v.v. đều được cung cấp đầy
đủ, đúng hẹn. Các con tôi không còn phải lội bùn mót những cuống rau muống già đem
về băm nhỏ hầm nhừ làm canh, tôi không phải hàng ngày bỏ giấc ngủ trưa cầm liềm
đi cắt cỏ mang về nuôi thỏ…Mọi thứ từ tiện nghi sinh hoạt gia đình đến phương
tiện đi lại, làm việc, giải trí đều dần dần được nâng cấp. Tôi không còn phải suốt ngày suốt đêm quanh quẩn kiếm
cơm kiếm tiền mà đã có thì giờ làm vài việc có ích cho cộng đồng, đã có những
phút ngồi uống trà với bạn bè thân thiết, phì phèo điếu thuốc đầu lọc tán gẫu với
nhau về thế thái nhân tình. Cuộc sống đã có những niềm vui nho nhỏ, tôi tìm lại
được tiếng cười tưởng chừng đã mất.
Nhưng vẫn nhiều lúc rất buồn.
Tháng Tư thành phố Hồ Chí Minh không tràn ngập hoa loa kèn
như Hà Nội, nhưng đi trên đường phố đôi khi vẫn bắt gặp những bông hoa trinh trắng
ấy vẫy gọi trở về với kí ức. Tháng Tám thành phố không có những làn gió thu
thơm mùi cốm, đêm đêm vắng mùi hoa sữa khi ngát khi nồng tùy theo tâm trạng vui
buồn …Với tôi Hà Nội đẹp hơn hẳn những thủ đô tôi đã đi qua, kể cả Paris hoa lệ.
Hà Nội của tôi đẹp không đâu sánh kịp vì mỗi nơi mỗi chốn đều gắn với những người
tôi thương mến quí yêu, mang ơn sâu nặng. Trường Bưởi bên bờ Hồ Tây mịt mùng khói tỏa ngàn sương[1]
có bao nhiêu bạn cùng chí hướng đã hi sinh vì Tổ
quốc… Quán sữa vỉa hè ga Hàng Lọng nơi Nguyễn Anh Bảo nhiều sáng vét hết tiền
trong túi đưa tôi đến uống hot milk vì
thương tôi gầy yếu sau khi ra tù Nhật… Làng Ngọc Hà có hai vợ chồng người Hoa chăm
sóc tôi như ruột thịt, hàng ngày lo lắng bảo vệ tôi khỏi rơi vào tay địch…nơi
cô vợ lính Lê dương người Đức trao cho tôi khẩu Walther của chồng làm quà cho
Việt Minh… Ngõ Huế có anh trí thức trẻ theo đạo Thiên chúa đã nuôi tôi mấy
tháng trời…Trên bến Phà Đen anh công nhân Tám đã dạy tôi bài học về tình hữu ái
giai cấp…Đường Cổ Ngư có cô gái gần chết đói vẫn xẻ nắm cơm cho tôi một nửa… Vườn
hoa Ba Đình tôi cùng đồng đội Tự vệ Chiến đấu bảo vệ Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc
lập, cách không xa là Phủ Chủ tịch nơi tôi vào chúc Tết Bác Hồ năm Bính Tuất… Phố
Gambetta trong ngôi nhà số 107 bí thư Lê Trung Toản đã chủ trì lễ kết nạp tôi
vào đảng Cộng sản Đông Dương… Ga Hàng Cỏ đêm cuối tháng 12-1945 chật ních người
mang cờ, hoa, đàn, sáo ra tiễn đoàn quân xung phong Nam tiến đầu tiên trong đó
có tôi và 30 chàng trai Hà Nội…Ga tàu điện Bờ Hồ bọn Quốc dân đảng phản động
đang hò hét “đả đảo Tổng tuyển cử” bị chúng tôi đánh cho tan tác, trong trận
chiến ấy Lê Thành Quế đã anh dũng hi sinh …Chiến tuyến phố Hàng Thiếc trung đội
phó Trần Đan tuy bị lựu đạn “lọ mực” nổ cướp làm gẫy tay phải vẫn dùng tay trái
còn lại tiếp tục ném lựu đạn chặn đánh giặc Pháp, đồng đội phải lôi đi cưa cụt
cánh tay gẫy, cưa tay mà không có thuốc mê… Tại ô Cầu Dền, Đỗ Đức Kiên đã cấp cho tôi những chiến sĩ thiện chiến
nhất để thọc sâu vào sau lưng bọn Pháp, khuyến khích tôi viết bài báo đầu tiên
trong đời…Phố Blockhaus-Nord (Phó Đức Chính) có căn nhà hai chị em tôi sống tuổi
học trò mồ côi, nhường nhau từng củ khoai luộc thay cơm, nơi Lê Quang Đạo bí
thư Đảng bộ Hà Nội đã dạy tôi bài học về cách mạng giải phóng dân tộc mở đường
cho tôi đi tìm lẽ sống cuộc đời. Cửa sau căn nhà ấy thông ra phố Châu Long có
cô nữ sinh Đồng Khánh đã gạt nước mắt dứt áo ra đi vì lão thầy bói Quỉ Cốc tử
phán cô có tướng ‘sát phu’, trên má có nốt ruồi ‘thương phu trích lệ’…
Mỗi đường phố, mỗi ngõ nhỏ của Hà Nội đều có những con người
đầy lòng yêu nước, hào hoa, thanh lịch, dũng cảm, nghĩa tình… Bao nhiêu kỉ niệm
vui buồn không sao kể xiết của gần trọn đời sống và chiến đấu cùng Hà Nội, vì
Hà Nội ùn ùn kéo về trĩu nặng trên tim nhiều lúc làm tôi tràn nước mắt.
Dù có đi bốn phương trời,
Lòng vẫn nhớ về Hà Nội,
Hà Nội của ta, thủ đô
yêu dấu
Một thời đạn bom một
thời hòa bình[2]…
Tôi có người bạn học cùng lớp tên là Châu rất đẹp trai, môi
đỏ, da trắng, khuôn trăng đầy đặn, thân hình thanh tú nên trong ngày Hội Trường
một năm đầu thập niên 1940 được Ba Khang -thầy dậy sử, trưởng ban tổ chức, tác
giả kịch bản kiêm đạo diễn ngày Hội Trường- giao cho Châu sắm vai Huyền Trân
công chúa trong màn trình diễn cảnh nàng giã từ vua cha Trần Nhân Tông vào Chiêm
Thành làm vợ vua Chế Mân đổi lấy châu Ô châu Rí cho nước nhà Đại Việt.
Nước non ngàn dặm ra
đi…Châu vào sống trong Sài Gòn qua hơn nửa thế kỉ thì sinh bệnh phải nằm liệt
giường. Nhớ Hà Nội lắm… Từ độ người đi
thương nhớ âm thầm [3] … Châu bảo vợ dán tấm bản đồ Hà Nội lên bức tường
ngay bên. Những lúc tỉnh, Châu ngước nhìn chằm chặp lên tấm bản đồ cố tìm lại những
con đường in dấu thời trai trẻ…Tuổi phong
sương ta vẫn gắng đi tìm… Chiếc cát xét cũ kĩ trong gian phòng nhỏ không ngớt
thì thầm những bài hát về Hà Nội. Chị vợ ngồi bên giường cầm khăn luôn tay chấm
chấm những giọt nước mắt rị ra từ đuôi mắt chồng.
Lúc biết mình sắp lìa đời, Châu cố vẫy ngón tay lên phía tường
rồi chỉ vào ngực mình. Người vợ hiểu ý, gỡ tấm bản đồ đặt lên ngực chồng.
Châu về với Đất Mẹ Sài Gòn, trên ngực phủ tấm bản đồ Hà Nội.
…Lúc phải đi khỏi
cõi này, lòng vẫn ôm theo bóng hình nơi ấy. Để Nghìn năm sau ta níu bóng quay về…
SĐM
---------------------------
[1]
Thơ Dương Khuê, quan nhà Nguyễn (1839-1902).
3 Ca khúc Có phải em là mùa thu Hà Nội. Nhạc Trần Quân Lộc- thơ Tô Như Châu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét