Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

BIỆT LI, NHỚ NHUNG TỪ ĐÂY…

                                                                                                                           (nhạc sĩ Dzoãn Mẫn)
Cuối năm 1986 tôi đưa vợ con vào thành phố Hồ Chí Minh. Ban ngày làm việc ở đơn vị, buổi tối, ngày nghỉ tranh thủ dịch sách, viết báo, vợ tôi bán cà phê thuốc lá…cuộc sống dần dần tạm ổn, sau hơn hai năm gia đình tôi vượt qua phần lớn những bế tắc hồi ở Hà Nội. Lãnh đạo thành phố có nhiều chủ trương chính sách sáng tạo, mạnh dạn xé rào, cởi trói cho sản xuất kinh doanh nên không khí ở đây thông thoáng, dễ làm ăn, dễ sống. Trong thành phố lại có nhiều người bạn vừa tốt bụng vừa có điều kiện san sẻ cho tôi nhiều thứ, giúp tôi vượt qua khó khăn. Ở Hà Nội tuy cũng có những bạn sẵn sàng giúp đỡ tôi nhưng họ không có khả năng sắm xe Dream như Thiết Vũ, không có con là ca sĩ đêm đêm nhận cát sê trị giá mấy cây vàng như Thái Thị Chi Lan... Các bạn ngoài ấy dù không ai lâm vào cảnh cùng quẫn được mô tả bằng câu vè có phần phóng đại Đầu đường đại tá bơm xe, Giữa đường trung tá bán chè đỗ đen, Cuối đường thiếu tá bán kem nhưng đều đang rất khó khăn, dù muốn giúp tôi nhưng lực bất tòng tâm.
Vào sống trong thành phố Hồ Chí Minh tôi không còn phải dậy từ 2, 3 giờ sáng đi xếp hàng đong gạo rồi phải về không vì kho hết gạo. Ở đây, mỗi ngày đầu tháng cứ mang bao tải đến ban Hậu cần của đơn vị là có gạo không kèm độn mang về. Ngày nào có thịt tiêu chuẩn, anh bạn Minh Đức đi nhận cho cả khoa giáo viên, mượn cân và dao thớt ngồi pha, chặt chia phần cho từng người đúng cân đúng lạng. Các tiêu chuẩn đường, nước mắm, đậu phụ v.v. đều được cung cấp đầy đủ, đúng hẹn. Các con tôi không còn phải lội bùn mót những cuống rau muống già đem về băm nhỏ hầm nhừ làm canh, tôi không phải hàng ngày bỏ giấc ngủ trưa cầm liềm đi cắt cỏ mang về nuôi thỏ…Mọi thứ từ tiện nghi sinh hoạt gia đình đến phương tiện đi lại, làm việc, giải trí đều dần dần được nâng cấp. Tôi không còn phải suốt ngày suốt đêm quanh quẩn kiếm cơm kiếm tiền mà đã có thì giờ làm vài việc có ích cho cộng đồng, đã có những phút ngồi uống trà với bạn bè thân thiết, phì phèo điếu thuốc đầu lọc tán gẫu với nhau về thế thái nhân tình. Cuộc sống đã có những niềm vui nho nhỏ, tôi tìm lại được tiếng cười tưởng chừng đã mất.

Nhưng vẫn nhiều lúc rất buồn.
Tháng Tư thành phố Hồ Chí Minh không tràn ngập hoa loa kèn như Hà Nội, nhưng đi trên đường phố đôi khi vẫn bắt gặp những bông hoa trinh trắng ấy vẫy gọi trở về với kí ức. Tháng Tám thành phố không có những làn gió thu thơm mùi cốm, đêm đêm vắng mùi hoa sữa khi ngát khi nồng tùy theo tâm trạng vui buồn …Với tôi Hà Nội đẹp hơn hẳn những thủ đô tôi đã đi qua, kể cả Paris hoa lệ. Hà Nội của tôi đẹp không đâu sánh kịp vì mỗi nơi mỗi chốn đều gắn với những người tôi thương mến quí yêu, mang ơn sâu nặng. Trường Bưởi bên bờ Hồ Tây mịt mùng khói tỏa ngàn sương[1] có bao nhiêu bạn cùng chí hướng đã hi sinh vì Tổ quốc… Quán sữa vỉa hè ga Hàng Lọng nơi Nguyễn Anh Bảo nhiều sáng vét hết tiền trong túi đưa tôi đến uống hot milk vì thương tôi gầy yếu sau khi ra tù Nhật… Làng Ngọc Hà có hai vợ chồng người Hoa chăm sóc tôi như ruột thịt, hàng ngày lo lắng bảo vệ tôi khỏi rơi vào tay địch…nơi cô vợ lính Lê dương người Đức trao cho tôi khẩu Walther của chồng làm quà cho Việt Minh… Ngõ Huế có anh trí thức trẻ theo đạo Thiên chúa đã nuôi tôi mấy tháng trời…Trên bến Phà Đen anh công nhân Tám đã dạy tôi bài học về tình hữu ái giai cấp…Đường Cổ Ngư có cô gái gần chết đói vẫn xẻ nắm cơm cho tôi một nửa… Vườn hoa Ba Đình tôi cùng đồng đội Tự vệ Chiến đấu bảo vệ Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, cách không xa là Phủ Chủ tịch nơi tôi vào chúc Tết Bác Hồ năm Bính Tuất… Phố Gambetta trong ngôi nhà số 107 bí thư Lê Trung Toản đã chủ trì lễ kết nạp tôi vào đảng Cộng sản Đông Dương… Ga Hàng Cỏ đêm cuối tháng 12-1945 chật ních người mang cờ, hoa, đàn, sáo ra tiễn đoàn quân xung phong Nam tiến đầu tiên trong đó có tôi và 30 chàng trai Hà Nội…Ga tàu điện Bờ Hồ bọn Quốc dân đảng phản động đang hò hét “đả đảo Tổng tuyển cử” bị chúng tôi đánh cho tan tác, trong trận chiến ấy Lê Thành Quế đã anh dũng hi sinh …Chiến tuyến phố Hàng Thiếc trung đội phó Trần Đan tuy bị lựu đạn “lọ mực” nổ cướp làm gẫy tay phải vẫn dùng tay trái còn lại tiếp tục ném lựu đạn chặn đánh giặc Pháp, đồng đội phải lôi đi cưa cụt cánh tay gẫy, cưa tay mà không có thuốc mê… Tại ô Cầu Dền, Đỗ Đức Kiên đã cấp cho tôi những chiến sĩ thiện chiến nhất để thọc sâu vào sau lưng bọn Pháp, khuyến khích tôi viết bài báo đầu tiên trong đời…Phố Blockhaus-Nord (Phó Đức Chính) có căn nhà hai chị em tôi sống tuổi học trò mồ côi, nhường nhau từng củ khoai luộc thay cơm, nơi Lê Quang Đạo bí thư Đảng bộ Hà Nội đã dạy tôi bài học về cách mạng giải phóng dân tộc mở đường cho tôi đi tìm lẽ sống cuộc đời. Cửa sau căn nhà ấy thông ra phố Châu Long có cô nữ sinh Đồng Khánh đã gạt nước mắt dứt áo ra đi vì lão thầy bói Quỉ Cốc tử phán cô có tướng ‘sát phu’, trên má có nốt ruồi ‘thương phu trích lệ’…
Mỗi đường phố, mỗi ngõ nhỏ của Hà Nội đều có những con người đầy lòng yêu nước, hào hoa, thanh lịch, dũng cảm, nghĩa tình… Bao nhiêu kỉ niệm vui buồn không sao kể xiết của gần trọn đời sống và chiến đấu cùng Hà Nội, vì Hà Nội ùn ùn kéo về trĩu nặng trên tim nhiều lúc làm tôi tràn nước mắt.
Dù có đi bốn phương trời,
Lòng vẫn nhớ về Hà Nội,
Hà Nội của ta, thủ đô yêu dấu
Một thời đạn bom một thời hòa bình[2]                               

Tôi có người bạn học cùng lớp tên là Châu rất đẹp trai, môi đỏ, da trắng, khuôn trăng đầy đặn, thân hình thanh tú nên trong ngày Hội Trường một năm đầu thập niên 1940 được Ba Khang -thầy dậy sử, trưởng ban tổ chức, tác giả kịch bản kiêm đạo diễn ngày Hội Trường- giao cho Châu sắm vai Huyền Trân công chúa trong màn trình diễn cảnh nàng giã từ vua cha Trần Nhân Tông vào Chiêm Thành làm vợ vua Chế Mân đổi lấy châu Ô châu Rí cho nước nhà Đại Việt.
Nước non ngàn dặm ra đi…Châu vào sống trong Sài Gòn qua hơn nửa thế kỉ thì sinh bệnh phải nằm liệt giường. Nhớ Hà Nội lắm… Từ độ người đi thương nhớ âm thầm [3]  Châu bảo vợ dán tấm bản đồ Hà Nội lên bức tường ngay bên. Những lúc tỉnh, Châu ngước nhìn chằm chặp lên tấm bản đồ cố tìm lại những con đường in dấu thời trai trẻ…Tuổi phong sương ta vẫn gắng đi tìm… Chiếc cát xét cũ kĩ trong gian phòng nhỏ không ngớt thì thầm những bài hát về Hà Nội. Chị vợ ngồi bên giường cầm khăn luôn tay chấm chấm những giọt nước mắt rị ra từ đuôi mắt chồng.
Lúc biết mình sắp lìa đời, Châu cố vẫy ngón tay lên phía tường rồi chỉ vào ngực mình. Người vợ hiểu ý, gỡ tấm bản đồ đặt lên ngực chồng.
Châu về với Đất Mẹ Sài Gòn, trên ngực phủ tấm bản đồ Hà Nội.
Lúc phải đi khỏi cõi này, lòng vẫn ôm theo bóng hình nơi ấy. Để Nghìn năm sau ta níu bóng quay về…                                                                                                                                           
 SĐM
---------------------------


[1] Thơ Dương Khuê, quan nhà Nguyễn (1839-1902).
2 Ca khúc Nhớ về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Hiệp.
3 Ca khúc Có phải em là mùa thu Hà Nội.  Nhạc Trần Quân Lộc- thơ Tô Như Châu.








TÔI LÀ THẰNG ĐÁNG GHÉT



Rời trường Quân chính Trường Sơn, tôi ra Hà Nội nhận công tác ở ban Tổng kết Công tác đảng-Công tác chính trị trực thuộc Tổng cục Chính trị. Tôi được phân công tổng kết phần ‘Công tác cán bộ’ –Trong đánh Mĩ công tác này do một vị tướng chủ trì, bây giờ cũng chính ông tướng ấy phụ trách tổng kết toàn bộ các mặt công tác đảng, công tác chính trị.
Bản đề cương được thông qua sau bốn tháng khởi thảo. Bám sát đề cương, chúng tôi viết các phần kiểm điểm, đánh giá thành tích, ưu điểm và thiếu sót, khuyết điểm của các đơn vị, các cấp, nhất là của Tổng cục Chính trị.
Phần thành tích, ưu điểm được  thông qua sau nhiều cuộc tranh luận sôi nổi giữa tướng với cán bộ ban Tổng kết. Nhiều vấn đề tuy là chân lí hai năm rõ mười nhưng phải mất nhiều thì giờ bàn cãi mới đi đến thống nhất. Ví dụ: khi nhận định về nguyên nhân tạo nên tinh thần chiến đấu cao của quân đội ta, ý của tướng là “phải nêu bật sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tinh thần chiến đấu cao của quân đội ta” nhưng các cán bộ ban Tổng kết một mực cho rằng tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm mới là nhân tố quyết định. Trong báo cáo chính trị tại đại hội II của Đảng tháng 2-1951 Bác Hồ nói:
Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quí báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.
Chúng tôi cho rằng phải nêu bật truyền thống chống ngoại xâm đã hình thành trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ngay từ trước khi có Đảng. Phải đề cao sự lãnh đạo của Đảng nhưng không phải bằng cách phủ nhận truyền thống lâu đời của dân tộc. Tôi dẫn chứng: “Hồi 1946 phần đông các làng bản ở ngoại ô Hà Nội, ở các vùng hẻo lánh của Hà Đông, Sơn Tây đều chưa có tổ chức Đảng, các đội dân quân du kích chưa biết công tác chính trị lãnh đạo tư tưởng là gì nhưng nhờ có truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước nên họ chiến đấu rất dũng cảm”. Sau nhiều ngày bàn cãi sôi nổi, cuối cùng vị tướng thỏa thuận sẽ viết “trên nền tảng vốn có là tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy cao độ tinh thần chiến đấu hi sinh của quân đội tạo thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi”.
Viết phần ưu điểm đã khó viết phần khuyết điểm càng khó hơn gấp bội,  nhiều cuộc tranh luận diễn ra rất căng thẳng. Rõ ràng ông tướng không dễ nhận khuyết điểm trong sự lãnh đạo chỉ đạo của Tổng cục Chính trị mà ông là một trong những người đứng đầu. Hôm sơ bộ thông qua phần Công tác Cán bộ, sau khi khẳng định thành tích xây dựng được một đội ngũ cán bộ đông đảo, đáp ứng yêu cầu chiến đấu ngày càng cao từ đánh nhỏ lên đánh lớn hợp đồng binh chủng v.v.. tôi nêu hai vấn đề :
1/ Không nên xác định đường lối công tác cán bộ là ‘lấy công nông làm cốt cán’ mà nên ‘lấy đảng viên làm cốt cán’. Ta coi đảng viên là những phần tử ưu tú nhất, là người đứng trong hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân vì thế họ là đối tượng chủ yếu trong công tác đào tạo và đề bạt cán bộ. Để thể hiện đầy đủ hơn đường lối giai cấp trong công tác cán bộ thì nêu ‘lấy đảng viên xuất thân hoặc bản thân là công nhân, nông dân lao động làm cốt cán’.
2/ Trong công tác đề bạt Tổng cục chấp nhận chủ trương của Cục Cán bộ ‘một năm không phải là nhanh mười năm không phải là chậm’ là vi phạm Luật Phục vụ của Sĩ quan.
Nghe nói đến luật Sĩ quan, ông tướng hỏi:
 - Luật nói thế nào?
 - Luật Phục vụ của Sĩ quan do Quốc hội ban hành năm 1958, điều 11 qui định niên hạn tối thiểu của sĩ quan tại ngũ để xét việc thăng cấp bậc cho từng cấp. Ví dụ: từ Thiếu uý lên Trung úy 3 năm, từ Đại úy lên Thiếu tá 4 năm, từ Thượng tá lên Đại tá 5 năm,  từ Đại tá trở lên thì căn cứ vào nhu cầu của Quân đội và đức tài, thành tích của sĩ quan mà quyết định.
Ông tướng ngẩn mặt vài giây rồi nói:
- Luật là một chuyện, khi vận dụng phải linh hoạt không máy móc.
Tôi không tán thành kiểu ‘vận dụng’ tùy tiện ấy. Theo tôi, có thể đề bạt trước thời hạn thậm chí vượt cấp, ngược lại có thể kéo dài thời hạn giữ cấp nhưng Tổng cục phải có những qui định cụ thể, những chuẩn mực rõ ràng. Không có những chuẩn mực ấy nên đã xẩy ra tình trạng nâng đỡ hoặc dìm dập theo cảm tính yêu ghét. Kẻ chẳng có tài cán gì, chưa một lần ngửi mùi thuốc súng nhưng nhờ khéo ‘vâng, dạ’ nên lên cấp vùn vụt, người có trình độ nhưng không chịu nịnh hót, thẳng thắn trung thực góp ý với trên thì thường bị ghét bỏ, quân hàm mốc meo vẫn không được lên cấp…
Cuộc tranh luận giữa tôi với ông tướng về hai vấn đề trên kéo dài cả tháng vẫn chưa phân thắng bại. Tôi đang ra sức sưu tầm tư liệu chuẩn bị lí lẽ rắp tâm cãi đến cùng để bảo vệ chân lí thì một hôm anh bạn Thế Trường nói nhỏ với tôi:
- Sáng hôm trước anh không dự họp, ông ấy nói với bọn tôi ‘Cái thằng đáng ghét ấy không đến à? Càng tốt. Mới thấy nó thò mặt qua cổng là tao đã tức lộn ruột lên rồi! Thằng ấy lắm mồm lắm mà lí sự của nó thối đéo ngửi được.
Theo kinh nghiệm của tôi, chỉ khoảng 10% thủ trưởng không khó chịu khi cấp dưới có ý kiến trái ý mình, số đông khi gặp bọn "tiểu tư sản cứng đầu" thường qui chụp lên đầu chúng những tội tự kiêu, tự mãn, tự phụ, lí luận suông, xa rời thực tế v.v... Ông tướng này thuộc loại ấy, đã thế còn có tật nói năng bỗ bã, thích văng tục. Hồi Lê Quang Đạo còn làm phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thấy ông tướng văng tục giữa một cuộc họp đông cán bộ cấp dưới, Lê Quang Đạo nhắc khéo:
-Anh văng ra nhiều thế ai dọn vệ sinh cho xuể?
Ông tướng vênh mặt:
-Thành phần cơ bản mà lị!
Lê Quang Đạo không ‘khéo’ nữa, cau mặt:
-Anh không được bêu riếu thành phần cơ bản!
Ông tướng ấy im re.
Cuộc tranh luận xung quanh công tác cán bộ kéo dài nhiều tháng. Chẳng riêng công tác này mà các mặt công tác khác của công tác Đảng-công tác Chính trị trong quân đội ta tuy có nhiều thành công nhưng cũng có thiếu sót, khuyết điểm. Khi đánh giá mức độ, hậu quả tiêu cực của những thiếu sót, khuyết điểm này giữa ban Tổng kết và một số lãnh đạo chủ chốt của các Cục và Tổng cục Chính trị có nhều nhận định trái ngược nhau, không kết luận được. Vì thế, bản Tổng kết sau khi viết xong không được công bố mà phải nằm trong két sắt của Tổng cục Chính trị.

                                                                                                                                                          SĐM

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

TÔI LÀ THẰNG LIỀU



Tết Ất Dậu năm 1945 tôi về làng Hội Thống huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh ăn Tết với bà ngoại. Đêm giao thừa tôi đang thủ thỉ thăm dò lòng yêu nước của anh Niêm con cậu chắt Trí, định vài ngày nữa sẽ đưa anh vào hội Nông dân Cứu quốc thì có tiếng gọi qua hàng rào sau nhà:
- Bớ anh Niêm! Mở cổng có người kêu nè.
Anh Niêm mừng rỡ, huých tôi:
- Hàng xóm đi biển kiếm được cá, gọi ta sang lấy. Mai anh em mình có cá tươi ăn rồi.
Ở xóm này vẫn có lệ thay phiên nhau nấu nồi nước chè xanh gọi hàng xóm sang cùng uống, nhà làm nghề biển được cá thì gọi hàng xóm sang chia phần.
Thằng con anh Niêm chạy ra mở cổng. Hai tên lính lệ xách hai chiếc đèn chai lách qua người nó đi thẳng vào nhà, theo sau là anh lí Đồng con cậu đĩ Nhường. Hai tên lính soi đèn vào chõng bà ngoại đang nằm,  rồi tới trước cửa buồng lớn tiếng hỏi:
- Nguyễn Phan mô?
Tôi tụt xuống giường, đáp:
- Tôi đây.
- Bận quần áo, lên huyện. Quan huyện đòi.
Tôi nghĩ ngay đến số tài liệu Việt Minh trong túi quần móc trên vách liếp cạnh hòm thóc. Tôi chậm chậm đi ra chỗ bà ngoại đang nằm rên hừ hừ, trèo lên chõng. Chõng hẹp, bề ngang chỉ khoảng sáu mươi phân, trên chõng lúc này có hai bà cháu nên hai tên lính lệ đành đứng dưới đất giơ cao chiếc đèn chai sau lưng tôi. Soi cao đèn như thế kia nhất định chúng bị lóa mắt, bóng tôi lại che kín chiếc quần móc trên vách nên chúng không thể trông thấy tôi đang nhanh tay lấy hết những tài liệu quốc cấm trong túi quần giắt vào vách liếp. Hai thằng lính vẫn đứng im dưới đất soi đèn. Tôi thở phào nhẹ nhõm, mặc blu-dông, mặc quần tây bước xuống. Một tên rút còng trong túi bập vào cổ tay tôi. Bà ngoại òa khóc:
- Cháu ơi! tội tình chi mà cực rứa cháu ơi!
Tên lính nhăn nhở:
-Không can chi mô. Quan huyện hỏi đôi điều rồi cho về ngay.
Tôi an ủi:
- Bà và các cậu các anh ả đừng lo. Ngoại cố giữ sức khỏe chờ con về.
Hai tên lính cầm đèn vào phòng hất tung chiếu trên giường. Anh Niêm đứng tựa lưng vào vách liếp, đưa mắt dáo dác nhìn hai tên lính, trên mặt lộ vẻ vừa căm tức vừa thoáng sợ sệt. Khi trở ra, một tên trèo lên chõng lấy chiếc ba lô trên hòm thóc xuống lục tung tóe, vứt hết quần áo ra ngoài rồi tới bàn thờ nghiêng ngó, sau cùng nó khám túi áo túi quần tôi. Không thấy gì.
Hai đứa giải tôi ra ngõ. Bà con hàng xóm nấp sau hàng rào chè tươi, dưới gốc vối, bụi tre lặng lẽ nhìn theo.
x  x  x
Trời tối đen, mưa phùn làm mái tóc bết chặt rỏ nước xuống gáy xuống ngực làm tôi rét run. Tôi rất băn khoăn không biết do đâu xẩy ra cơ sự này. May mà chúng không tóm được tài liệu. Mình sẽ chối phăng, không nghe, không thấy, không biết… Mải suy tính, tôi vấp chân vào mô đất loạng choạng vài bước rồi húc đầu vào lưng thằng lính đi trước. Nó hốt hoảng rú lên:
- Chui cha! Cái chi rứa bay? Trời, choa hết hồn!
Tôi mím chặt môi để khỏi bật cười, nghĩ bụng:  “Giá mình kịp xây dựng cơ sở trong làng thì chỉ cần vài ba anh em tự vệ cứu quốc là đủ gô cổ mấy thằng nhát như cáy này, giải thoát cho mình. Tiếc quá! Mình đã bỏ lỡ thời cơ. Việc có thể làm hôm nay thì chớ để đến ngày mai!"
 Trụ sở huyện hiện ra lờ mờ xa bên tay phải,  tôi đi chậm lại liếc nhìn vào thấy vẫn tối om. Tên lính đi sau đẩy vào lưng tôi, quát:
-Đi! Còn ngái mới tới.
Thì ra không phải là huyện đòi như chúng nói. Đi qua ngã ba cây Da Lách tới phà Bến Thủy, tên lính hú lên mấy tiếng, một chiếc thuyền nhỏ khua chèo oàm oạp cặp vào bờ. Sang tới bờ bên kia, màn đêm đang đen kịt bỗng sáng lóa mắt, tiếng máy ô tô rộ lên. Một bóng đen to cao nhẩy xuống đi theo vệt đèn pha tới  rì rầm vài câu với hai tên lính lệ rồi tới trước mặt tôi. Nước da nâu sạm, nói tiếng ta rất sõi nó ôn tồn:
- Chào anh. Anh là Nguyễn Phan phải không? Tôi chờ anh đã lâu. Mời anh lên xe.
Hắn mở cửa đẩy tôi lên ghế sau. Vừa đặt một chân lên bậc bất chợt tôi giật mình lùi lại : một con chó béc-giê rất to ngồi thành một đống lù lù đen chùi chũi trên ghế cất tiếng gầm gừ dữ tợn. Tên tây lai da đen suỵt một tiếng, con chó im bặt. Xe gài số lao đi. Suốt dọc đường, con béc-giê luôn ghé mõm thở hồng hộc vào tai tôi. Mỗi khi tôi cựa quậy nó lại  «gừ»  một tiếng…
Tới sở Liêm Phóng thành phố Vinh, tôi bị nhốt vào phòng giam. Rạng sáng, hai tên mật thám mặc thường phục đưa tôi ra ga tàu hỏa, hai tay vẫn bị xích, bụng đói cồn cào, miệng khát khô. Hai đứa xốc nách nhấc bổng tôi lên đặt ngồi xổm giữa chúng trên toa đen. Xung quanh chật ních người với thúng mủng quang gánh lủng củng những nắm khoai lang khô, lác đác vài đấu cám, vài đấu tấm vơi vơi.
Tàu đỗ ga Thanh Hóa.
Chúng đưa tôi lên xe kéo về sở Liêm Phóng. Liếc nhìn căn phòng rộng chừng bốn chục thước vuông chật ních những gương mặt trẻ măng, hầu hết là bạn học trường Bưởi, tôi chột dạ: sao mà bị bắt nhiều thế! Trong số ấy chỉ thấy Huy con trong tiểu tổ tôi, không thấy Đu. Tôi càng yên tâm hơn khi không thấy Lã Triều Khu, nhân vật chủ yếu biết rõ tôi.
Ở một góc phòng có mấy người không phải học trò trường Bưởi. Một anh trắng trẻo, nhỏ bé, đeo kính cận, nghĩ mãi tôi mới nhớ ra đó là anh Võ Đắc Huề[1] giáo viên trường Nord-Annam giữ liên lạc giữa Lã Triều Khu với tỉnh bộ Việt minh Thanh hóa. Tôi đã vài lần đi với Khu đến gặp anh.Anh kia là Hồ Trúc[2] giáo viên trường thày dòng Mission. Anh thứ ba là Trương Khâm, chủ hiệu sách Hạc Thành. Những người khác thì tôi không biết. Do đâu các anh bị chúng bắt giam?  Do đâu số bạn trường Bưởi bị bắt nhiều thế? Mà lại bị đúng vào lúc đang cần và đang có điều kiện mở rộng phong trào cứu quốc ở trường, ở tỉnh Thanh, đang dự định tổ chức đội du kích, lập chiến khu! Tai hại  quá!
Tôi được tháo còng tay, len vào ngồi bên Đường, Kim Khánh hai bạn cùng lớp. Tôi hỏi Đường:
- Sao nó bắt cậu?
Đường hất hàm ra phía cửa:
- Tại thằng kia. Thằng khốn nạn! Nó phun ra cả thảy ba mươi hai anh em mình.
Đường lại hất hàm về phía cửa có một cậu ngồi gần như tách khỏi mọi người: Lê Đỗ Nguyên[3] lớp Nhì C. Tôi lết tới bên, dằn giọng hỏi:
- Sao mày khai lắm thế? Mà mày biết đếch gì về tao mà khai ra cả tao?
Nguyên nhếch mép chẳng ra cười chẳng ra mếu, thản nhiên đáp:
- Thấy bọn mật thám kháo nhau  Ce sont des gosses qui ne savent pas encore se moucher.(Chúng nó là bọn trẻ ranh hỉ mũi chưa sạch) nên tớ tương kế tựu kế khai thật nhiều để chúng thấy đây là bọn trẻ con a dua đua đòi nhau chứ chẳng phải là Việt Minh hay Cộng Sản, ái quần ái quốc gì.
Tôi gầm lên:
- Đồ hèn!
Khoảng 9 giờ sáng,  một tên mật thám mở phòng giam ra hiệu cho Lê Đỗ Nguyên đi theo hắn. Không thấy Nguyên trở lại, nó được thả vì có công tố giác 32 người. Quá trưa lại loảng xoảng tiếng xích, một tên mật thám mở cửa vừa gọi vừa chỉ tay ra hiệu :  
- Nguyễn Phan! Lên phòng ông chánh thanh tra.

Tôi bị chúng tra tấn, quay điện trong mười ngày liền nhưng không khai điều nào có "giá trị", cuối cùng trong phòng giam chỉ còn lại tôi và Huy “con”, hai anh Huề, Trúc, và ba đoàn viên Cứu quốc thị xã. Những anh em khác đã được thả vì bọn mật thám không thu được bằng chứng gì. Vài ngày sau, bẩy người chúng tôi bị tống vào nhà tù Thanh Hóa. Tên quản khố xanh dùng hắc ín viết lên lưng áo số tù của từng người. Hắn viết lên áo tôi số 54 rồi cầm tông-đơ cạo trọc đầu tôi. Hắn mỉa mai:
-Bố mẹ cho bay đi học thành cậu tú, nhưng bay ngu dại nên biến thành thằng tù!
Mỗi ngày tù được ăn một bữa với nắm cơm nấu nước vôi to vừa bằng quả trứng vịt, thức ăn là cái mảnh đầu cá khô trong khi ăn phải đập mạnh cho dòi bò hết ra. Đêm mùa đông nằm co ro không chăn chiếu trên tấm phản gỗ đầy rệp, sáng sáng cởi quần áo cầm chiếc bát bằng vỏ dừa miết theo đường chỉ để giết bớt rận, trứng rận nổ lép bép.
Một tháng sau, chúng tôi bị đưa ra tòa án Nam triều tỉnh Thanh xử tội “làm loạn” với bản án 3 năm tù. Nhưng cuộc đảo chính mùng 9 tháng 3 năm 1945 vừa nổ ra, bộ máy chính quyền tay sai đế quốc Pháp bị lật đổ.. “ Tòa” vừa dứt lời tuyên án liền bị nhân dân dự khán hét to “ Đả đảo! Đả đảo ! Bắt giam ngay ba thằng tay sai đế quốc đàn áp người yêu nước! “ Cả ba tên hốt hoảng bỏ chạy qua cửa hậu ném lại sau lưng câu “Cho hưởng án treo”.
   Mấy bạn tù người Thanh Hóa về nhà, số còn lại và vài bạn học về nhà thầy Huề ngồi nghỉ chốc lát trước khi chia tay. Một cậu tới bên tôi, tự giới thiệu:
- Mình là Khôi[4] anh ruột Đỗ Nguyên.
Tôi nhìn cậu ta, vẻ dửng dưng không có thiện cảm. Khôi tiếp:
- Cậu yếu lắm. Về nhà mình nghỉ ít lâu cho khỏe rồi đi đâu hãy đi.
   Thấy đây là dịp tìm hiều thêm về gia đình tên Nguyên, về trường hợp hắn bị bắt, vả lại lúc này  chưa có ý định đi đâu, làm gì nên tôi nhận lời.
   Bố mẹ Nguyên là địa chủ có hàng trăm mẫu ruộng phát canh thu tô ở ấp Thị Long huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa, có ngôi nhà gạch bề thế giữa thị xã, bốn bề là vườn trồng ngô, su hào và nhiều loại rau xanh. Trong một tuần ở đây, tôi được Khôi chăm sóc chu đáo từ ăn, ngủ đến thể dục, giải trí. Tôi cảm nhận rất rõ niềm ân hận của Khôi về tội lỗi của thằng em. Chú Lê Đỗ An[5] cũng rất ngoan, rất niềm nở, sốt sắng giúp đỡ tôi mọi mặt, sáng nào cũng rủ tôi đánh bóng bàn. Sau độ nửa giờ, An đưa tôi vào buồng tắm, múc nước giếng mang vào cho tôi.
Bẩy ngày sau tôi trở ra Hà Nội, chắp mối với đoàn thể. Từ cuối tháng 3-1945 đến 19 tháng 8-1945, tôi nối liên lạc với hầu hết những đường dây Thanh niên Cứu quốc của trường Bưởi, trường Thăng Long, Đỗ Hữu Vị và nhiều trường Đại học. Tuy theo nguyên tắc bí mật, người trong đường dây này không được biết người của đường dây khác nhưng trong giai đoạn tiền khởi nghĩa này tâm lí chủ quan khá phổ biến, các đường dây gần như đã ra “công khai” hết. Trong những đường dây ấy, không thấy bóng dáng Lê Đỗ Nguyên, cũng không nghe thấy bất cứ bạn trường Bưởi nào nói đến hắn ta.
Ngày 25-8-1945 đội Tự vệ Chiến đấu thành Hoàng Diệu ra đời.. Đại đội có 3 trung đội: Tô Hiệu, Ký Con và trung đội Hà Huy Tập. Ngay buổi đầu họp đại đội tôi thấy Lê Đỗ Nguyên ngồi trong trung đội Hà Huy Tập. Lúc ấy tôi không nghĩ đến tội hắn đã hèn nhát khai ra 32 bạn học trong đó có tôi bị tra tấn, quay điện rồi bỏ tù …trái lại rất mừng khi thấy hắn đứng trong đội ngũ cách mạng. “Thế là tốt, để cho nó lập công chuộc tội”. Tôi không hé răng với ai vụ khai báo của hắn 6 tháng trước. Và suốt 41 năm sau đó, tôi không lúc nào nghĩ đến chuyện ấy nữa, vì toàn chiến đấu ở những chiến trường xa nên không lần nào thấy lại mặt hắn mà cũng chẳng nghe tin tức gì về hắn.
Cho đến năm 1986 trước Đại hội VI của Đảng. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp Ủy viên trung ương Đảng cho biết ban Tổ chức ghi tên Hồng Cư trong danh sách đề cử vào Trung ương. Lúc này tôi là cán bộ ban Tổng kết trực thuộc Tổng cục Chính trị, Lê Đỗ Nguyên đeo quân hàm trung tướng với bí danh Phạm Hồng Cư làm phó chủ nhiệm Tổng cục, là thủ trưởng của tôi. Tố giác hắn chắc chắn tôi sẽ bị hắn trả thù, nhưng dù thế nào đi nữa cũng không thể để hắn có cơ may lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Tôi xin gặp Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, nói rõ vụ khai báo nghiêm trọng của trung tướng Phạm Hồng Cư hồi tháng Hai năm 1945.
Nhiều người trong đơn vị biết tin. Một anh bạn thân đến gặp tôi, nói:
             -Đáng lẽ cậu không nên làm thế. Chỉ tổ mang vạ vào thân.
Tôi hỏi:
-Thế cứ để nó ung dung lọt vào Trung ương à?
-Ý mình không phải thế. Phải chặn đường nó, nhưng bằng thư nặc danh chứ không lộ mặt. Là thủ trưởng của cậu nó sẽ dìm cậu đến chết không ngóc đầu lên được. Cậu hết đường lên tướng, mất tiêu chuẩn xe hơi nhà lầu và hàng chục quyền lợi khác. Cậu liều quá! Dám mó dái ngựa vuốt râu hùm!
Mất những thứ ấy kể cũng tiếc thật. Nhưng tôi nghĩ ‘Nhiều đảng viên đã hi sinh cả tính mạng để bảo vệ Đảng, những thứ tôi để vuột khỏi tay có đáng gì !
                                                                                                                                                SĐM










        [1] Sau này lấy bí danh Trần Quang Huy, tháng 8-1945  là thành viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội
[2] Bí danh của Nguyễn Tài Uyên, nguyên bí thư trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,  thứ trưởng Bộ Giáo dục.

 3 Con thứ hai của Lê Đỗ Kỳ địa chủ có hàng trăm mẫu ruộng ở Nông Cống (Thanh Hóa). Vào bộ đội, che giấu thành phần địa chủ và tội khai báo cho mật thám Pháp bắt 32 người, leo lên đến cấp trung tướng, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt nam.
       
[4] Lê Đỗ Khôi nguyên chính trị viên tiểu đoàn (E169 F312) hi sinh trong chiến dịch Điện Biên     Phủ  vài  giờ trước khi quân ta chiếm  hầm De Castries.
[5] Bí danh Tiên Phong  phó trưởng ban Dân vận TW.